Saturday, December 3, 2011

DỊCH TẢO XANH, TẢO ĐỎ Ở XỨ LẠ




















Lai căng toàn trị độc tài


Trần Nhơn

Sinh ngày: 10/4/1938
Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng
- 1961: Kỹ sư Thuỷ Lợi
- 1991: Tiến sĩ Kinh Tế
- 6/1972: Phó Cục trưởng Cục kiến thiết cơ bản – Bộ Thuỷ Lợi
- 1/1976: Trưởng ty (nay là Giám đốc Sở) Thuỷ Lợi tỉnh Đak Lak
- 1983: Vụ trưởng Vụ xây dựng cơ bản – Bộ Thuỷ Lợi
- 11/1983 – 1995: Thứ trưởng Bộ Thuỷ Lợi
12/1997 đến nay: Chủ Tịch Hội Thuỷ Lợi Việt Nam
Từ tháng 7/2000 Tổng Giám đốc Công ty phát triển và hội nhập Toàn cầu
Chức vụ về Đảng:
- Tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Đak Lak
- Phó bí thư Đảng uỷ khối cơ quan nông nghiệp TW
- Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ khối cơ quan kinh tế TW
- Đại biểu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.
- Đại biểu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

Nguyễn Thông: Tiến sĩ Trần Nhơn- cựu thứ trưởng Bộ Thủy lợi là người có những ý kiến, suy nghĩ thẳng thắn và sâu sắc. Bài thơ dưới đây của ông chứng minh điều đó. Cuối bài thơ, tiến sĩ đã chú thích rằng “Quốc sử triều ta” có sử dụng một số ý trong bài “Quốc sử do ai chép?” của Nguyễn Thông”, vì vậy mình cũng xin mạn phép bác Nhơn được lưu bài này để thỉnh thoảng đọc cho “biết sử ta”.

Giáo sư Phan Huy Lê “mơ mộng”

Soạn ra bộ quốc sử “triều” ta.
Tìm đâu người đức tài, trí dũng,
Dám viết nên chân sử nước nhà!

Tội diệt chủng, tương tàn huynh đệ,
Nỗi đau xuyên thế kỷ hành tinh.
Tác nhân lịch sử thành giun, dế,
Thái sử quan ngoảnh mặt làm thinh?

Nhân dân đã phá bung ràng buộc,
Ai nhận công đổi mới về minh?
Mười năm sau hòa binh tuột dốc,
Diệt công thương (là) “sáng suốt, anh minh”?

Đảng xưa hội tụ lòng yêu nước,
Nay là nơi mua bán chức quyền (?!)
Thang giá trị, luân thường đảo ngược,
Quốc sử mình có dám viết lên?

Người lớn, trẻ con đều ngán sử,
Thuộc sử Tàu hơn quốc sử ta.
“Sử sinh động” biến thành “sử tử”,
Tích không vào, tản cũng không ra.

Sử thế giới biến thành sử Đảng,
Chín (mươi) tư năm “ta thắng, địch thua”.
Mác rỉ, Lê cùn luôn “tỏa sáng”,
Diệt Nga hoàng Đảng cướp ngôi vua.

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại,
Hội sử hay là hội nô văn?
Sử “chép” vậy mà không phải vậy,
Đầu Tây, mình Việt đảng lai căng.

Vạch mặt bọn lừa dân dối Đảng,
Mọt sâu toàn trị cướp “ngai vàng”;
Đồng chí trung kiên thành “phản loạn”,
Bán Hoàng sa, Bản Giốc, Nam Quan…

Chui vào rọ bá quyền Bắc thuộc,
Bán lương tâm, phụ chính phù tà.
Phong thánh cho gian hùng mãi quốc,
Sử quan là “sử tặc nước nhà”.

Trả chân sử về cho quốc sử,
Sự thật lạnh lùng chẳng chống ai.
Chỉ chống bọn mặt người dạ thú
Dối lừa dân, hãm hại anh tài.

Còn mê muội Lê nin tà đạo
“Đảng vi tối thượng, dân vi khinh”.
Lời huyết lệ gửi vào di cảo,
Đợi thời gian phán xử công minh.

Hội ta nên tọa đàm học tập
Anh em Thái sử Bá nước Tề.
“Thôi Trữ giết vua” là sự thật,
Cổ kề gươm sử bút vẫn phê.

Vẽ, tán…hay tô hồng đảng sử
Là chuyện buồn thế sự hôm nay.
Chúc Hội giữ vẹn toàn danh dự,
Tránh xa phường ưng khuyển mặt dày!

Tháng 11.2011

Theo blog Nguyễn Thông




HỒN TỔ TIÊN CHẲNG ĐƯỢC YÊN

Hồn tổ tiên chẳng được yên,
Đêm về báo mộng thiêng liêng dặn dò:
Các Chú đổi mới vòng vo,
Ngày càng siết chặt kim cô xích xiềng.

 
Lịch sử quần chúng làm nên,
Mác đã dạy, các chú quên mất rồi!
Độc chiêu Đảng cử dân bầu,
Cuồng si bám giữ ghế ngôi lâu dài.

 Kỳ thị thức giả, hiền tài,
Độc quyền chiếm dụng báo, đài, thông tin.

 
Chú Linh hạn hẹp tầm nhìn,
Theo vết xe đổ Lê nin lỗi thời.

 Bước qua cầu Thống nhất rồi,
“Xã hội”, “Dân chủ” thả rơi giữa dòng.
Làm chính trị chẳng thủy chung,
Trả lời thức giả, cộng đồng sao đây?

 
Cùng có lỗi trong việc này,
Chú Mười không thể đứng ngoài vô can!
Chú Mạnh luồn cúi ngoại bang (?!)
Đi mây, về gió, diễn văn dông dài.
Mong Chú còn kịp sửa sai:
Mấy tháng cuối nhiệm kỳ Hai của mình,
Lắng nghe thức giả, lão thành,
Tháo xiềng toàn trị, hãm phanh độc tài.

 
Chú Dũng thường nghe một tai,
Nhiều dự án lớn quyết sai, vội vàng.
Cả tin ô lại tham quan,
Các nhóm lợi ích ngụy trang trá hình.
Đã lên tột đỉnh quang vinh,
Chuyển sang đối trọng: cứu tinh nước nhà.
Chú dám đột phá, xông pha,
Tháo gỡ nút thắt, mở ra tiền đồ.
Bẻ gãy xích xiềng kim cô,
Đắp bồi dân chủ, tự do, pháp quyền.

 
Chú Trọng hiểu hết sự tình,
Giả vờ “lú lẫn” dối mình, lừa dân.
Chuyên nghề tổng hợp, diễn văn,
Níu kéo học thuyết lai căng, lỗi thời:
Mô hình toàn trị Tháng Mười
Bóp ngặt dân chủ, cây đời héo khô.

 
Chú Rứa cũng rứa vậy thôi,
Rao giảng những lời chú chẳng hề tin!
Chú “phong Thánh” Hồ Chí Minh,
Dễ bề khỏa lấp “chuyện tình Trường Tô”;
Bao che hủ hóa, tham ô,
Giữ gìn”thể diện” quan to Triều đình?
Lo sợ “diễn biến hòa bình”,
Chú muốn “gây hấn chiến tranh” tương tàn?
Diễn biến: tất yếu khách quan
Hội nhập thế giới nhân văn, nhân quyền.
Không thể cam chịu ngồi yên
Chờ mùa sung rụng tháo xiềng kim cô!
Đổi thay: mở rộng tiền đồ,
Giải phóng dân chủ, tự do loài người.
Từ bỏ mô hình Tháng Mười:
Hợp thời cuộc, thuận ý trời, lòng dân.
Băng chiến tranh lạnh đã tan,
Sáng soi chân lý, rõ ràng đúng sai:
Văn minh dân chủ phương Tây,
Nhấn chìm đảng trị độc tài Stalin,
Kế thừa học thuyết Lê nin,
Siết chặt toàn trị nâng thành quái thai!

 
Chú Triết nói vo dông dài,
Tự ti cộng sản, hớ, sai nhiều điều.
Quên “phế binh Ngụy” đói nghèo,
Vỗ về tư bản Việt kiều đầu tư.
Hòa giải chỉ trên ngôn từ,
“Hoà hợp kẻ cả” bao giờ thực thi!
Cải cách tư pháp được gì?
Dường như chỉ thấy bước đi thụt lùi!

 
Chú Chi giả điếc, giả mù
Né tránh ô dù, chỉ “tắm từ mông”.
Kiểm tra có cũng bằng không,
Oan sai chẳng cứu, gian hùng được tha (?!)
Để vụ việc vỡ lở ra,
Mới họp thẩm vấn, xét rà hồ sơ.
Tảng lờ ngõ hẻm, chợ trời,
Mua quan, bán chức giữa thời dân nô.
Vẫn còn “đảng trị kim cô”,
“Đổi mới”, “cải cách” là trò mị dân!

 
Chú Việt sáng dạ, chuyên cần,
Am tường dân chủ, nhân văn, nhân quyền.
Trải nghiệm Quảng Ninh, Thái nguyên,
Chậu hoa, chim cảnh Thanh niên, Công đoàn.
Thấu hiểu toàn trị cực đoan,
Hiến chương 77 (1977) sổ vàng ghi công.
Tư duy toán học tinh thông
Giúp chú đồng cảm tiếng lòng nhân dân:
Vì sao Xô viết trường thành
Cùng số phận tường Béc lanh đổ nhào?
Đông Âu nhẹ nhõm thở phào,
Đảng trị Việt vẫn giảng rao suốt ngày?
Chú vờ không biết, không hay
Mặc cả mua bán trao tay chức quyền.
Dĩ hòa “ngậm miệng ăn tiền”,
Hay tự lột xác vượt lên chính mình?

 
Con nhà dòng dõi, thông minh,
Truyền thống cách mạng, gia đình vẻ vang.
Đồng hành cùng với nhân dân,
Kích hoạt nội lực tự thân mỗi người.
Mọi “quy hoạch” thành trò cười,
Đo ván ngay giữa sân chơi công bằng!
Nhìn thảm họa đen rõ ràng,
Hãy nắm lấy thời cơ vàng cứu dân!
Dù phải vượt khó vạn lần,
Sức dân là chiếc gậy thần ngàn năm

 
Khi có lãnh đạo ngang tầm,
Quy tụ Trí, Dũng, Nhân, Tâm, Đức, Tài.
Tổ chức, nhân sự ngày nay
Chú để tụt hậu hơn vài thập niên.
Cộng thêm hệ số kim tiền
Thay đen, đổi trắng, loạn điên sắc màu.

 
Cắp sách sang học Đông Âu,
Đổi mới chính trị chiều sâu vừng bền.
Bàn tròn đối thoại bốn bên,
Khoan dung đa đảng, đa nguyên một nhà.

 
Những người cộng sản tinh hoa
Chẳng lo “tự sát” khi hòa vào dân,
Luôn nắm bắt cái dân cần:
Tự do dân chủ tinh thần Voltaire.
Ngày nay chẳng ai thắng ai,
Các bên cùng thắng: tranh tài vì dân.

 
Đa nguyên phát triển cân bằng,
Phát huy nội lực, tiềm năng nước nhà.
Trường đua đa đảng mở ra,
Cử tri bầu chọn tinh hoa hiền tài.

 
Dẹp bỏ Bệ Rồng không ngai,
Thượng tôn pháp luật, học bài “Vì Dân”!
Nhiều Chú “khai quốc công thần”,
Tướng lĩnh ưu tú hiến dâng trọn đời,
Sao còn lặng tiếng im hơi,
Tôn thờ chữ Nhẫn, đứng ngồi đợi sung?

 
Xương máu chiến sĩ, anh hùng,
Chất thành núi, chảy thành sông phí hoài!
Hồn nước chưa thể nguôi ngoai
Giữa nhà tù lớn đóng cài tư duy.

 
Trường chinh thế kỷ ta đi,
Để lại cuộc sống những gì hôm nay?
Lai căng toàn trị độc tài,
Đổi mãi chẳng mới, dằng dai sức ì.
Sức ì chính ở tư duy,
Đeo bám đảng trị bước đi giật lùi.

 
Mở cửa kinh tế đã lâu,
Đóng cửa tư tưởng tìm đâu nhân tài?
Rút ngắn, bắt kịp tương lai,
Con người – yếu tố lâu dài, căn cơ.
Đổi mới tập tễnh, giả vờ,
Tấn tuồng kệch cỡm bao giờ đổi thay?
Hãy đứng lên! Nối vòng tay!
Đảng viên, quần chúng đêm ngày đợi trông.
Đa nguyên: truyền thống Lạc Hồng,
Bài học sáng tạo, thành công vĩnh hằng,
Phát huy nội lực, tiềm năng,
Từ bỏ toàn trị lai căng, độc tài!
***
Con đường đi tới tương lai,
Thời cơ có một không hai lúc này:
Đại hội Mười Một “giả cầy”,
Hay là Đại hội dựng xây nước nhà:
Hai nghìn mười lăm nở hoa?


Tháng 10/2010
Trần Nhơn

Đất nước ăn trộm chó


Tôi suy nghĩ nhiều lắm khi đặt cái tít bài này. Vì dán nhãn một đất nước ăn trộm chó thì mình cũng khác nào thằng bắt chó. Nhưng đó là câu nói của thằng em họ tối qua khi nó mất đến con chó thứ 4, Những kẻ lưu manh lạ lùng trong xã hội này ngang nhiên cướp chó ngay giữa thanh thiên bạch nhật.


Bọn cướp dùng dây phanh làm một cái thòng lọng và tung vào cổ chó. Kẻ đằng trước rú ga, con chó chống cự lại đến mức tất cả chân của nó trượt trên đường, bật máu, sau đó nó quỳ xuống, đầu gối lết trên mặt đường đá khô khốc, máu bật ra và nước mắt chảy. Khi lịm đi thì bọn cướp giật lên, ôm ngang người và bỏ chó vào bao tải
 
                                      
Cậu em nhìn thấy liền lấy xe máy phóng lao theo, rượt theo lên đoạn cánh đồng làng trên, bọn trộm chó dừng xe, rút kiếm ra và vẫy cậu em lại. Thương chó lắm, nhưng nó đành lau nước mắt và quay xe. Nó bảo thương con chó vô cùng, đau buồn đến nỗi nghĩ đến chuyện uống thuốc tự tử hoặc tự mình làm một quả bom nổ tung xác.


Gọi nhờ tư vấn, nó bảo: “Anh Quân ơi, tồn tại làm chi giữa đất nước ăn trộm chó này nữa”. Tôi bảo bình tĩnh vì nếu không mấy thằng phản động sẽ cười vào mũi nó, nói: “làm cách mạng gì cái ngữ mày, mất có con chó quèn mà cũng dọa ôm bom lên ủy ban”. Thực tâm, thằng em chỉ muốn có chế độ mới không có kẻ trộm chó. Nó bảo ngày xưa Lão Hạc, Chị Dậu đói khổ đến mấy, nuôi được con chó vẫn có thể bán kiếm tiền. Còn bây giờ ông Nam trong làng nghèo, neo đơn, chỉ có con chó làm bạn mà cũng vưà bị câu mất cách đây 3 tuần.




Theo nó, bắt trộm chó giờ đã trở thành phổ biến, trải dài từ thành thị đến nông thôn, từ vùng đồng bằng đến miền núi. Đêm đêm kẻ trộm chà đi xát lại những vùng quê miền trung nghèo đói, xác xơ để tìm cách bắt chó. Nó bắt của người khá giả lẫn cả những người mà tài sản chỉ có một con chó. Chúng đi xe máy, rồ ga, vòng đi vòng lại, kích thích chó trong nhà lao ra sủa, khi đó nó sẽ tung dây thòng lọng ra xiết cổ lôi đi. Nếu chó khỏe, tỳ chân chống cự lại thì vung gậy sắt quật ngang mõm, chó bất tỉnh ngay lập tức và chúng bắt bỏ vào bao tải. Chú Kiên có con chó 40 cân, sợ không kéo đi được nên bọn chúng dùng thuốc để đánh bả. Thuốc độc mua từ Trung Quốc, 250 ngàn một viên rất nhỏ dùng đánh được cả mấy tạ chó. Chó chết người việt cũng ăn tất !


Không chỉ ăn trộm ở trong nước, kẻ trộm chó còn sang tận lào bắt hết chó Lào, chó ở Lào ít đi, Bọn trộm chó lại tràn sang bắt cả chó ở Thái Lan. Là đất nước theo đạo Phật, người Thái quý trọng và không bao giờ ăn thịt chó. Vì vậy, Chính quyền Thái đã bắt bỏ tù một số kẻ chuyên đi bắt trộm chó xuyên quốc gia. Nhưng những kẻ trộm chó người Việt vẫn chui lủi đi đập chó và vớt chó chết ở khắp vùng Đông Bắc Thái Lan.




Năm 1996, tôi gặp 1 khách du lịch Mexico anh ấy bảo: “Người Việt Nam vui vẻ nhưng sao họ cứ bắt chó nhốt trong lồng vậy. Những con chó đó đi đâu ? ”. 15 năm trôi qua, hôm nay qua mạng facebook cô bạn người Anh kiên quyết nói không bao giờ đi du lịch Việt Nam nữa: “Vì những ánh mắt khẩn nài của các con chó sắp chết bị chở đi trên đường phố cứ ám ảnh mãi”


Đã bao giờ bạn nuôi chó hoặc nhìn sâu vào ánh mắt của một con chó quý chưa ? Nếu rồi, chắc bạn sẽ  thấy sự khốn nạn của những tay trộm chó. Nhưng khốn nạn hơn là cơ chế nào để tạo ra những con người lương thiện Việt nam năm nào đã trở thành những kẻ ăn trộm chó lạnh lùng, thản nhiên. Có tên trộm bị dân đập chết, đốt xác, coi mạng người như mạng chó nhưng vẫn tiếp tục có nhiều người ăn cướp chó.


It đứa suy nghĩ sâu như thằng em họ. Nó bảo rõ ràng Chính quyền xã nó bảo kê cho bọn trộm chó. Nó bảo vì có những quan chức ăn cắp hàng tỷ đồng mà vẫn lên TV giảng đạo đức “oách” cho nên bọn trộm chó nó nghĩ mình tội trộm chó chỉ bằng trộm cái lông chân của dân nên cũng nhơn nhơn, thách thức. Nó bảo công an xã bảo kê vì có những chủ vựa chó trộm xây được nhà lầu, đào hầm ngầm để nhốt chó trộm ngay trong xã cứ 2 ngày xuất đi Hà Nội một chuyến hàng trăm con, dân biết hết mà Chính quyền vẫn làm ngơ. Sau đó nó trầm tư: “làm sao mà có được cái thòng lọng để trặc cổ chính quyền xã như trặc chó”.


Tôi can, bình tĩnh, bình tĩnh !

Nguồn: Blog Lê Quốc Quân

Kháng thư của gia đình họ Huỳnh

KHÁNG THƯ CỦA GIA ĐÌNH HUỲNH NGỌC TUẤN

V/v: Tố cáo trước công luận Quốc tế về việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trắng trợn vi phạm nhân quyền: quyền tự do ngôn luận, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và thân thể, danh dự và tài sản.

Kính gởi:

-Ông Ban Ky Moon-Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc
-Nghị Hội Châu Âu
-Quốc Hội Hoa Kỳ
-Chính phủ Hoa Kỳ
-Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
-Ủy Ban Nhân quyền Liên Hiệp quốc cùng các Tổ chức Nhân quyền Thế giới

Kính thưa Quý vị,
Ngày 8 tháng 11 năm 2011 vừa qua, Chính quyền tỉnh Quảng Nam đã tung một lực lượng hùng hậu gồm công an chìm, nổi chừng 200 người án ngữ mọi nẻo đường chung quanh ngôi nhà tôi ở Đội 1, thôn Phú Quý, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam (chính xác là nhà em gái tôi, vì tôi không có tư gia sau 10 năm tù và 4 năm quản chế, tôi và các con tôi đều sống với hai em gái tôi), phối hợp với đoàn Thanh tra của Sở Thông tin-Truyền thông Quảng Nam, đột nhập vào nhà tôi, khám xét, niêm phong và thu giữ 1 bộ máy tính, 1 thùng CPU rời, 1 máy in hiệu Canon, 1 USB, 1 bộ loa máy tính, 1 router dùng để kết nối mạng, với lý do: ba cha con tôi dùng những phương tiện này để “phát tán trên mạng những tài liệu chống đảng, Nhà nước”.

Nhà cầm quyền còn chỉ đạo cho các tờ báo của mình đưa thông tin bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của ba cha con tôi trên khắp các trang mạng chính thống của họ. Ngày 22 tháng 11 năm 2011, trên các tờ báo lớn của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đồng loạt đưa tin về việc xử phạt ba cha con tôi 260 triệu đồng (tiền Việt Nam) vì đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Vào lúc 3 giờ chiều ngày 2 tháng 12 năm 2011, cả trăm công an đã xông vào nhà tôi và chốt chặt các lối ra vào nhà, hành hung, đánh đập mẹ tôi- Mai Thị Yến, con gái tôi là Huỳnh Thục Vy, con trai tôi-Huỳnh Trọng Hiếu và hai cô em gái tôi là Huỳnh Thị Hường và Huỳnh Thị Thu Hồng. Họ đọc 3 quyết định xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó: phạt tôi 100 triệu đồng, con gái tôi- Huỳnh Thục Vy 85 triệu đồng, con trai tôi- Huỳnh Trọng Hiếu 85 triệu đồng. Tổng cộng 270 triệu đồng. Sau đó, họ tịch thu 1 máy ảnh Canon và 6 điện thoại di động của người nhà tôi và bắt luôn cháu trai tôi là Huỳnh Ngọc Lễ (lúc đó đang mặc áo No-U) lên xe chở về đồn công an vì “chống người thi hành công vụ” (do cháu xông vào bảo vệ Huỳnh Thục Vy đang bị đánh) Sau khi họ rút hết khỏi nhà tôi, hai em gái tôi đã kiểm tra lại tủ đựng tiền và phát hiện bị mất 3000 đô la, trong đó có cả đô la Mỹ, Úc, Canada)

Trong những quyết định xử phạt vi phạm hành chính được gởi cho ba cha con tôi, người ta yêu cầu chúng tôi phải nộp phạt tại kho bạc Nhà nước cho đến hạn chót là ngày 22 tháng 12 năm 2011. Nếu quá hạn đó mà không nộp phạt, người ta cảnh cáo là sẽ cưỡng chế. Gia đình tôi đang rất hoang mang không biết họ sẽ có thủ đoạn gì tiếp theo.

Tất cả những hành động trên của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng tinh thần của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà họ đã long trọng ký kết năm 1978. Bản Tuyên ngôn này có những quy định như sau:

Ðiều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Ðiều 9:

Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 12:

Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm ấy.

Ðiều 17:

Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 19:

Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Ðiều 28:

Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Việc bôi nhọ danh dự, phẩm giá và đàn áp, sách nhiễu, khủng bố  không nương tay những người thực hiên quyền tự do bày tỏ quan điểm, đặc biệt là quan điểm chính trị của mình; tịch thu tài sản trái pháp luật, hành hung, đánh đập, bắt bớ, giam giữ công dân vô tội là những hành động thường xuyên và đã có nhiều tiền lệ nguy hiểm của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Nhà cầm quyền đã bất chấp mọi thủ đoạn tàn độc để triệt hạ những tiếng nói đối lập trên toàn cõi Việt Nam. Người dân Việt Nam không hề được hưởng những quyền tự do căn bản đã được tuyên bố và ký kết trong Tuyền Ngôn quốc tế Nhân quyền. Lương tâm, Phẩm giá, Nhân quyền, Tự do của chúng tôi bị chà đạp một cách độc đoán.

Trước tình hình nguy hiểm và khẩn cấp của gia đình tôi với sự bạo tàn, ngang nhiên xâm phạm lên tinh thần của bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền và các Công ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, tôi xin gởi kháng thư này đến quý vị mong với vai trò quốc tế quan trọng và  thẩm quyền ngoại giao đặc biệt của mình, xin quý vị hãy can thiệp để buộc Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải :

1/Tôn trọng tinh thần của Tuyên Ngôn quốc tế nhân quyền và các Công ước Quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị.

2/ Chấm dứt sự can thiệp thô bạo vào quyền tự do bày tỏ quan điểm, tự do ngôn luận của ba cha con tôi.

3/ Trả tự do ngay lập tức cho cháu trai vô tội của tôi là Huỳnh Ngọc Lễ.

4/ Bồi thường những thiệt hại về tinh thần cũng như vật chất cho các thành viên trong gia đình tôi.

5/ Hoàn trả những đồ đạc, máy móc mà người ta đã thu giữ của gia đình tôi bằng cách trả tiền mặt, vì chúng tôi không tin tưởng vào sự nguyên vẹn của các tài sản mà họ đã lấy đi khỏi nhà tôi.

6/ Chấm dứt hoàn toàn mọi hành vi hành hung,đánh đập và bôi nhọ danh dự ba cha con tôi trên các phương tiện truyền thông của họ.
Khẩn thiết  thỉnh cầu sự can thiệp của quý vị và xin trân trọng kính chào.

Tam Kỳ ngày 3 tháng 12 năm 2011
Chúng tôi:

Huỳnh Ngọc Tuấn
Và các con:

Huỳnh Thục Vy
Huỳnh Trọng Hiếu

"ĐẤU TRANH GIAI CẤP" - bài viết của Huỳnh Thục Vy

 Người Mỹ nói đến “đấu tranh giai cấp”?!

 

Phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” bắt đầu từ  17/9 ở New York, Hoa Kỳ nay đã lan rộng khắp bốn châu lục. Phong trào này được cho là lấy cảm hứng từ “Mùa Xuân Ả Rập” ở Bắc Phi. Những người biểu tình mô tả đây là một “cuộc cách mạng thực sự”, thậm chí những người có quan điểm cánh tả coi đây là một cuộc “đấu tranh giai cấp”. Trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung đứng trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng thứ hai chỉ trong vòng ba năm và nền chính trị dân chủ dần bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, thiển nghĩ vấn đề “chủ nghĩa tư bản” và sự canh tân nền chính trị dân chủ đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và toàn diện không phải đối với các nhà chính trị học và xã hội học thế giới mà còn là những người Việt Nam quan tâm thời cuộc.

Ban đầu, tôi không chú ý đến phong trào này cho lắm. Bởi lẽ, ở những xứ sở dân chủ người ta có thể biểu tình vì bất cứ lý do gì. Đó là cách thể hiện những nguyện vọng, đòi hỏi cần được đáp ứng, những bức xúc cần được giải tỏa của người dân hay thậm chí chỉ là những dịp bày tỏ thái độ của họ trước những vấn đề không mấy quan trọng. Biểu tình ở Tây phương gần như một thứ văn hóa- văn hóa phản kháng và văn hóa hành động tập thể. Dù là gì đi nữa, tôi cho rằng những cuộc biểu tình là cần thiết và chúng là biểu hiện của tự do. Sự phản kháng và thách thức quyền lực sẽ tạo ra sức ép cần thiết lên chính quyền và giới lãnh đạo kinh tế nhằm đẩy họ đến chỗ phải có những điều chỉnh thích hợp. Chính nền dân chủ bảo vệ quyền phản kháng của người dân; và sự phản kháng đến lượt nó, lại tạo ra năng lượng tự thay đổi, tự làm mới để bảo vệ nền dân chủ.

Nhưng khi phong trào này trở nên rầm rộ và chung quanh nó xuất hiện những ngụy biện lớn kể cả những trò “giậu đổ bìm leo” từ bên ngoài phong trào ấy, thì tôi nghĩ mình không thể không quan tâm. Đặc biệt, khi những người có tiếng tăm và có ảnh hưởng đối với quần chúng như các diễn viên, đạo diễn ở Mỹ lại mạnh mẽ lên tiếng đòi làm “cách mạng”, đòi “đấu tranh giai cấp”, đòi những người ở tầng lớp dưới phải là người lãnh đạo đất nước…thì những ai muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do phải lên tiếng. Cũng phải kể đến nhiều người cầm bút bất lương ở Việt Nam “thừa nước đục thả câu” đã gân cổ lên rằng “chủ nghĩa tư bản thối nát” và “người Mỹ cũng ủng hộ chủ nghĩa xã hội”, để ngụy biện cho cái chế độ độc tài đã nuôi dưỡng họ.

Khắp nơi trên thế giới, mỗi khi có cơ hội thì nhiều người ngay lập tức cho rằng chủ nghĩa tư bản là không thể chấp nhận được, phải thay đổi…, mặc dù họ hiểu biết rất ít về chính trị, kinh tế và xã hội. Nói đến đây tôi nhớ đến việc nữ diễn viên Jane Fonda cùng với giới điện ảnh Hoa Kỳ phát động phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, ủng hộ cộng sản; hay những phong trào thanh niên trên khắp thế giới cuối thế kỷ 19 góp phần quan trọng cho sự bành trướng của chủ nghĩa xã hội. Có những người rất thích nói đến xã hội, bình đẳng, giai cấp … trong khi họ chẳng biết gì về bản chất của sự bình đẳng và mối tương quan giữa tự do và bình đẳng. Họ vô tình hay cố ý không nhận ra rằng: để cho tất cả được tự do và có cơ hội ngang nhau nhằm quyết định vận mệnh của mình, đó mới là công bằng, chứ không phải là “cào bằng” tất cả.

Các nhà lãnh đạo và giới tư bản Hoa Kỳ không hề câu kết nhau tước đoạt quyền tư hữu, không sung công tài sản của người dân Mỹ, không lấy hết đất đai, trâu bò của họ để thành lập hợp tác xã trá hình, không lấy hết ruộng vườn của họ rồi đền bù với giá rẻ mạt, không gom tất cả tài sản quốc gia lại để ăn chia nhau. Vì hệ thống chính trị dân chủ, pháp trị không cho họ cái quyền làm như thế. Cái lỗi của họ là cái lỗi chung của nhân loại- đó là sự tham lam. Họ tham lam, họ dùng tiền để tác động tới chính quyền nhằm trục lợi làm cho kinh tế khủng hoảng và làm cho đời sống người dân trở nên khó khăn. Phản đối sự tham lam của  giới tài phiệt và sự hoạt động kém hiểu quả, cũng như thái độ không chú trọng quyền lợi người dân thường của chính phú là một động thái cần thiết. Nhưng người ta nên phản kháng với nhận thức rằng bất cứ định chế chính trị hay kinh tế nào của nhân loại cũng tồn tại khiếm khuyết và có xu hướng tha hóa. Chúng ta không thể có được cái hoàn hảo nhưng chúng ta có thể có được một cơ chế khắc phục sai lầm hiệu quả.

Đừng thấy sự tự do cạnh tranh có khiếm khuyết mà vội vàng ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Bởi vì trong cái gọi là xã hội XHCN ấy, bạn không được tư hữu ngay cả mảnh đất truyền thừa của tổ tiên, không có cả quyền phản đối chính quyền dù nó sắp bán nước đi nữa, không có tất cả những quyền mà bạn vốn có trong thể chế dân chủ, mà đôi khi sự hiện hữu nghiễm nhiên của nó làm bạn dễ quên lãng và phớt lờ nó. Người ta nên chọn loại thể chế nào: thể chế dân chủ- nơi mà người ta có thể phản kháng và phản kháng hiệu quả, hay thể chế mà họ gọi là “chủ nghĩa xã hội”- nơi mà người ta luôn rêu rao sự bình đẳng, rằng nơi đó những người dân thường tầng dưới của xã hội sẽ lãnh đạo xã hội, để khi bạn thực sự sống ở đó, bạn mới biết rằng công nhân, nông dân ở đây có cuộc sống chỉ hơn nông nô thời trung cổ mà thôi?!

Chủ nghĩa tự do với nguyên tắc tự do cá nhân và nền chính trị dân chủ pháp trị, có hai khuynh hướng chính: một là, chủ nghĩa tự do cổ điển (chủ nghĩa tự do kinh tế)  ủng hộ chủ nghĩa tư bản laissez-faire, phản đối sự can thiệp của Nhà nước; hai là, chủ nghĩa tự do mới (chủ nghĩa tự do xã hội) ưu tiên một Nhà nước phúc lợi với sự can thiệp cần thiết của Nhà nước vào nền kinh tế, và trao cho Nhà nước vai trò đảm bảo sự bình đảng xã hội. Mỗi khuynh hướng đều có ưu và nhược điểm. Nhưng nhược điểm của chúng cũng chính là nhược điểm của thế giới loài người. Vì thế việc chấp nhận nhược điểm là cần thiết và là thái độ sáng suốt. Việc cân bằng giữa tự do cạnh tranh và bình đẳng xã hội luôn là một vấn đề khó khăn mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt. Và điều quan trọng là chúng ta có được một mô hình, một thể chế có những nguyên tắc cốt lõi có thể hạn chế những nhược điểm này- đó chỉ có thể là nền dân chủ mà chủ nghĩa tự do đã xây dựng.

Có một hạng người không bao giờ biết được ý nghĩa thực sự của tự do, đó là những người cả đời sống trong chế độ dân chủ tự do, hưởng mọi lợi ích từ nền chính trị dân chủ và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, và chưa bao giờ ném mùi chính trị độc tài, kinh tế tập trung. Thừa kế cái di sản hiển nhiên của tổ tiên khiến người ta quên mất giá trị của nó. Tôi đồng tình khi họ phản đối các nhà tài phiệt tham lam và giới chính trị hoạt động kém hiệu quả. Tôi ủng hộ khi họ đòi hỏi chính quyền ưu tiên xây dựng một Nhà nước phúc lợi, đảm bảo tương đối bình đẳng xã hội bằng trợ cấp và tăng thuế thu nhập. Nhưng họ sẽ biến thành kẻ đần độn nếu cổ vũ cho xu hướng cực tả, cho chủ nghĩa xã hội. Họ chẳng tưởng tượng nổi trong xã hội XHCN chẳng thể nào có cái cảnh mỗi người cầm trên tay một chiếc Iphone để liên lạc với nhau trong cuộc biểu tình; mà họ cũng chẳng có cơ hội để mở rộng cuộc biểu tình, vì người ta sẽ bắt hết bọn họ đưa lên xe bus từ khi cuộc biểu tình chỉ có vài chục, vài trăm người.
Tại sao khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, bất bình đẳng gia tăng, người ta không hướng tới một mô hình kiểu Bắc Âu, nơi mà ưu tiên về một Nhà nước phúc lợi được đặt lên trên mọi nhu cầu cạnh tranh tự do của kinh tế thị trường? Tại sao người ta cứ phải đặt vấn đề chủ nghĩa xã hội khi chúng ta muốn làm mới hệ thống chính trị và kinh tế? Nhiều người khi mưu cầu sự bình đẳng xã hội thường hướng đến chủ nghĩa xã hội trong khi cái chúng ta thực sự muốn là chủ nghĩa tự do xã hội. Vì chính chủ nghĩa tự do xã hội mới  là hệ lý thuyết cung cấp cho chúng ta mô hình để xây dựng một nền dân chủ với nền kinh tế bị hạn chế bởi nhà nước, để đảm bảo phúc lợi cho tầng lớp dân nghèo. Còn khi chúng ta nói về chủ nghĩa xã hội, chúng ta không biết là mình đang ca ngợi nền độc tài chính trị và kinh tế tập trung- nơi mà cái dạ dày của bạn sẽ bị khống chế bởi cơ quan lãnh đạo cao nhất, và vì thế bạn sẽ chẳng thiết đòi quyền tự do chính trị nữa. Người ta có lẽ còn nhập nhằng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do xã hội! Nhiều người Mỹ còn nhập nhằng như thế. Nhưng tôi tin rằng đa số người Mỹ biết được giá trị của hệ thống chính trị dân chủ của họ. Họ phản kháng để “refresh” nó chứ chẳng phải để lật đổ nó. Vì nếu muốn từ bỏ hệ thống ấy thì cách tốt nhất là họ nên qua sống ở Việt Nam, Trung Quốc hay Bắc Triều Tiến càng hay.

Tôi muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do vì thiết nghĩ rằng nếu chúng ta không nhìn thấy vai trò của nó, bỏ quên nó vì những thứ lý thuyết độc hại khác, con người sẽ phải trả giá. Nhân loại đã từng trả giá vì sự hiểu biết hời hợt về chủ nghĩa cộng sản, vì sự phớt lờ tầm quan trọng của chủ nghĩa tự do. Điều này không thể lặp lại! Tôi biết điều này sẽ khó có thể lặp lại ở những nước có nền dân chủ tự do vững chắc như Hoa Kỳ. Nhưng theo một cách nào đó, nó bị lợi dụng triệt để ở những nước độc tài chống Mỹ và phương Tây như Việt Nam, Trung Quốc. Việc ví von phong trào “chiếm phố Wall” với “Mùa Xuân Ả Rập” mà tôi thấy ở khắp nơi trên báo chí “chính thống” của chế độ (Tạp chí cộng sản và Sài Gòn giải phóng là những ví dụ lố bịch điển hình) chỉ là một cách “lập lờ đánh lận con đen” bỉ ổi.

Ai trong chúng ta cũng biết rõ “Mùa xuân Ả Rập” là phong trào cách mạng thay đổi thể chế chính trị, lật đổ các chế độ độc tài đã tồn tài nhiều năm, còn phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” lại là một cuộc vận động xã hội (không phải cách mạng), tạo áp lực lên một chính quyền dân chủ, buộc họ phải thay đổi cách nhìn và phương thức điều hành xã hội. Sự tương đồng về ngoại biểu không khỏa lấp được những khác biệt về bản chất nội tại (động cơ, mục tiêu). “Mùa Xuân Ả Rập” là động thái giết chết một con bệnh ung thư, còn “Chiếm phố Wall” là cách người ta cảnh báo và chữa trị cho một người mắc bệnh thông thường. Cũng cần phải nhận thức rõ rằng trên thế giới này không có kẻ không có bệnh mà chỉ có những kẻ hết thuốc chữa. Thật vậy, con người trở nên cao quý không phải vì anh ta hoàn hảo mà vì anh ta biết đổi mới và đứng lên mạnh mẽ hơn từ những sai lầm. Và để tránh những ngụy biện không cần thiết cho điều này ở những trường hợp khác, tôi muốn nói thêm rằng: Có một sự khác biệt cơ bản giữa sự thối nát hệ thống và sự sai lầm cục bộ.

 Tam Kỳ, ngày 27 tháng 10 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

NHỚ TẾT MẬU THÂN 1968

Nhân Tết Nhâm Thìn, nhớ lại Hai mươi sáu ngày tang thương của Huế

Tết Nhâm Thìn 2012 đến nhắc người Việt, nhất là người Huế nhớ đến Tết Mậu Thân. Đêm mồng một Tết (rạng mồng Hai) quân đội cộng sản mở cuộc tấn công quy mô trên toàn quốc, trong đó có thành phố Huế. Đêm trước – đêm Giao Thừa – trong khi thỏa thuận ngưng bắn 36 giờ để dân ăn Tết còn hiệu lực, cộng quân đã đánh vào một số thị trấn nhưng ở một quy mô nhỏ.

Cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Huế mở màn cho 26 ngày tang thương, 26 ngày kinh hoàng của lịch sử kinh thành Huế. Trong hơn một thế kỷ, Huế chỉ trải qua hai lần bom đạn. Lần thứ nhất “kinh đô thất thủ” năm 1883 khi Pháp đưa chiến thuyền ngược sông Hương pháo kích kinh đô Huế. Lần thứ hai khi cuộc tòan quốc kháng chiến bắt đầu, quân đội Việt Minh bao vây đánh các đơn vị Pháp đóng tại Huế vào cuối năm 1946, đầu năm 1947.

**
 

Hai mươi sáu ngày tang thương của Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968 được quyết định tại phiên họp Trung ương đảng của đảng cộng sản Việt Nam tại Hà Nội tháng Tư năm 1967 ….

Ngược một chút dòng lịch sử. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ từ tháng 12 năm 1946 đưa đến sự bại trận của quân Pháp tại Điện Biên Phủ năm1954 và Việt Nam bị chia đôi ngang vĩ tuyến 17. Miền Bắc cộng sản, miền Nam cho người quốc gia.

Thời gian 8 năm kháng chiến (1946-1954) là thời gian tế nhị của lớp sĩ phu và những người Việt Nam có chút ăn học. Hầu hết theo phong trào chống Pháp và nằm trong guồng máy lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Một số trở thành người cộng sản, và một số không nhỏ trong thời gian kháng chiến thấy được bộ mặt thật của chủ nghĩa cộng sản đã bỏ về thành phố. Hầu hết thành phố do người Pháp quản lý với một chính quyền “gọi là quốc gia” làm bình phong nên không có chính nghĩa cho dù trong thời gian 8 năm người Pháp vì nhu cầu chính trị và áp lực của Hoa Kỳ đã trao trả một ít quyền hành và danh nghĩa cho ông Bảo Đại. Trong bối cảnh chính trị đó, những người bỏ hàng ngũ cộng sản về thành không có chỗ đứng. Họ bơ vơ trong cảnh hàng thần lơ láo.

Sau khi chia đôi Việt Nam, người Pháp rút về, Hoa Kỳ giúp hạ bệ ông Bảo Đại, thành hình “Việt Nam Cộng Hòa” với đầy dủ danh nghĩa một chính quyền quốc gia với sự lãnh đạo đầu tiên của tổng thống Ngô Đình Diệm.

Chính sách của Hoa Kỳ là giúp xây dựng một miền Nam Việt Nam phú cường, ổn định và tự do dân chủ để nhân dân miền Nam phát huy nội lực tự bảo vệ trước cuộc tấn công của miền Bắc. Xương sống của chính sách là miền Nam có một chính quyền quốc gia được sự hậu thuẫn của dân.

Rất tiếc do hoàn cảnh lịch sử điều kiện trên không thực hiện được. Bối cảnh lịch sử lúc đó là:

(1) nhân dân miền Nam chưa hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, và có cảm tình với những người lãnh đạo cộng sản vì họ vừa lãnh đạo thành công một cuộc đấu tranh giành độc lập.

(2) các chính khách và quân nhân lãnh đạo bộ máy chính trị và quân sự miền Nam Việt Nam hầu hết là sản phẩm của bộ máy cai trị của người Pháp để lại.

Trong số này tuy có thành phần ưu tú, nhưng thiếu phẩm chất của những nhà ái quốc chân chính. Từng là một bộ phận trong bộ máy cai trị của Pháp họ không ý thức được thế nào là tự do và thế nào là dân chủ. Một vài ý niệm dân chủ, tự do do người Pháp mang lại nhiều lắm giúp họ ca ngợi cái đẹp của tự do dân chủ nhưng chỉ ý thức lờ mờ rằng cái tự do dân chủ đó để dành cho từng lớp thống trị hay hợp tác với tầng lớp thống trị chứ không phải dành cho nhân dân Việt Nam chân lấm tay bùn. Vì vậy họ không thể hòan thành nhiệm vụ lịch sử là mang đến cho quần chúng một tinh thần ao ước tự do quyết tâm đổ mồ hôi và nều cần bằng máu để bảo vệ nếp sống trong tự do và dân chủ của mình.

Với tâm lý quần chúng đó, với dàn nhân sự đó tổng thống Ngô Đình Diệm dù là một người có tinh thần yêu nước cao và được sự giúp đỡ tận tình của Hoa Kỳ vẫn không xây dựng nổi một miền nam phú cường và dân chủ.

Trong bối cảnh đó miền Bắc dốc toàn lực tổ chức tuyên truyền phá hoại chế độ và đưa quân trá hình xâm lăng miền nam.

 

Để củng cố miền Nam, tháng 11/1963 Hoa Kỳ thay thế lãnh đạo bằng cách lật đổ chế độ ông Diệm. Nhưng các chế độ quân nhân thay thế ông Diệm tệ hơn chế độ ông Diệm. Trước nguy cơ sụp đổ, Hoa Kỳ không có sự lựa chọn nào khác hơn là đưa quân vào miền Nam chiến đấu đồng thời oanh tạc miền Bắc Việt Nam để ngăn làn sóng đỏ chiếm Nam Việt Nam rồi tràn ra toàn vùng Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương đe dọa Úc châu theo chủ thuyết Domino rất được ưa chuộng vào lúc đó.

Tháng Ba, 1965 Hoa Kỳ đổ bộ đơn vị Thủy quân Lục chiến đầu tiên lên Đà Nẵng, Hà Nội đưa các Sư đoàn chính quy vào miền Nam, Hoa Kỳ tiếp tục đổ quân. Từ tháng Ba 1965 đến cuối năm 1967 Hoa Kỳ chuyển 485.000 binh sĩ đến miền Nam, trong đó có Sư đoàn Kỵ binh không vận, một sư đoàn tân lập di chuyển hoàn toàn bằng trực thăng.

Cuối năm 1965 quân đội Hoa Kỳ và quân chính quy bắc Việt thử sức nhau trong vùng rừng núi trên cao nguyên miền Trung. Hai bên chịu nhiều tổn thất, và sau cùng quân đội cộng sản không chịu nổi rút quân qua Cambốt.

Đối với Hoa Kỳ bây giờ là giải pháp quân sự chứ không còn là giải pháp tạo ổn định để chiến thắng về mặt chính trị nữa. Sau cuộc thử lửa tại cao nguyên Hoa Kỳ thực hiện nhiều cuộc hành quân càn quét các ổ đóng quân, bộ chỉ huy và các căn cứ tiếp vận của cộng sản quanh Sài gòn. Cuộc hành quân Cedar Falls tháng 1/1967 đánh vào khu “Tam Giác Sắt” gần Sàigòn. Từ tháng 2 đến tháng 5 Hoa Kỳ thực hiện cuộc hành quân Junction City đánh vào Chiến khu C, gần biên giới Cambốt. Cả hai cuộc hành quân đều đạt mục tiêu. Áp lực vào Sài gòn được giải tỏa; quân đội cộng sản tại Chiến khu C phải trốn qua biên giới Cambốt. Mặc dù sau khi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi các vùng tảo thanh, quân đội cộng sản trở lại các vùng đó, nhưng tinh thần bộ đội và cán bộ của cộng sản xuống rất thấp.

Sau các cuộc giao tranh trên cao nguyên và hai cuộc càn quét Cedar Falls và Junction City lãnh đạo cộng sản tại Hà Nội tự hỏi rằng tiếp tục cuộc chiến như hiện trạng có thể đạt được hai mục tiêu sau không:

(1) buộc quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, và
(2) lật đổ chính quyền tại Sài gòn.

Ý kiến trong Bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam khác nhau.

Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh nghĩ rằng tiếp tục hiện trạng sẽ làm cho Hà Nội kiệt sức trước. Duẩn và Thanh cho rằng cần phải làm một hành động ngoạn mục, gây nhiều tổn thất và tạo xúc động làm cho dân chúng Hoa Kỳ hỏang hốt và giúp thổi bùng lên phong trào chống chiến tranh đang âm ỉ tại Hoa Kỳ. Võ Nguyên Giáp trái lại, vốn có lối suy tư cổ điển theo sách vỡ cho rằng tình hình chưa chín để phát động một cuộc nổi dậy. Theo Gíáp, cần tiếp tục cuộc chiến tranh hao mòn “nông thôn bao vây thành thị” một thời gian nữa mới tới điểm “nổi dậy” được.

Sự bất đồng ý kiến đã được giải quyết trong Hội nghị trung ương đảng thứ 13 tại Hà Nội, qua đó đảng cộng sản quyết nghị tung một cuộc tổng tấn công vào các đô thị miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân vào tháng Giêng Hai năm 1968.

Có lẽ Nguyễn Chí Thanh sẽ là người tổ chức cuộc nổi dậy nếu ông ta không chết bất ngờ vào tháng 7/1967. Thanh chết, không còn ai ngoài Giáp có khả năng tổ chức và lãnh đạo cuộc Tổng tấn công. Giáp thi hành lệnh đảng dù ông không đồng ý. Sau này mặc dù cuộc tổng tấn công đạt mục đích chính trị buộc Hoa Kỳ xuống thang, ngưng gởi thêm quân đội và đề nghị hòa đàm đi đến chấm dứt chiến tranh, nhưng sự tổn thất nhân mạng quá lớn làm ông mất uy tín “là một viên tướng giỏi” trong nội bộ, và ngôi sao của Giáp mờ dần từ đó.

Cuộc tổng tấn công của Giáp khởi đầu đêm giao thừa (đêm 29/1/1968 rạng ngày 30/1) vào các thành phố Nha Trang, Hội An, Quy Nhơn, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột và pháo kích vào Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I. Đêm sau mồng Một rạng mồng Hai Tết (đêm 30/1 rạng ngày 31/1/1968) Giáp đánh Huế, Sài gòn, tòa đại sứ Hoa Kỳ và 20 thành phố và thị trấn khác trên toàn quốc .

Bài viết này tôi dành trận đánh tại Huế. Trận đánh Huế kéo dài 26 ngày là trận đánh dài nhất, đẩm máu nhất, với sự trả thù giết hơn 3000 quân nhân, công chức, cán bộ miền Nam.

**

Thành phố Huế nằm trên hai bờ sông Hương Giang. Năm 1968 Huế có 140.000 dân, khoảng 100.000 sống bên tả ngạn gồm phố chợ Đông Ba, khu Gia Hội và Thành Nội. Phần còn lại sống bên bờ hữu ngạn có hình tam giác giới hạn bởi sông Hương, sông đào An cựu và quốc lộ 1. Trung tâm gồm tòa hành chánh, bưu điện, bệnh viện trung ương, Đại học và trường Quốc học Huế, cơ quan MACV Mỹ (Military Assistance Command, Vietnam) và cầu tàu tiếp vận bằng đường thủy từ cửa Thuận An vào nằm gần bến Đập Đá do một đơn vị Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trú quân.

Thành Nội Huế nằm sát trên bờ bắc sông Hương rộng 7.8 km vuông, cạnh nam hình vòng cung áp sát bờ sông, 3 cạnh còn lại thẳng dài trung bình 2.800 mét. Thành được bảo vệ bằng một bức tường đất cao 9 mét che chắn trong ngoài bằng một lớp gạch dày, và cao 12 mét. Thành có nhiều cửa ra vào. Các cửa nổi tiếng là cửa Thượng Tự, cửa Nhà Đồ mở ra hướng Nam; cửa Hữu, cửa Chánh Tây mở ra phía Tây;cửa Đông Ba hướng ra phía Đông, cửa Bắc hướng về phía Bắc. Trong khối đất bao bọc thành có nhiều công thự, địa đạo người Nhật xây để bảo vệ Huế sau khi Nhật đảo chánh Pháp năm 1945 trong Thế chiến 2. Khi cộng quân chiếm Huế, họ xây công thự phòng thủ kiên cố với địa đạo, hầm ếch có sẵn và đào thêm trong bức thành đất làm cho việc tảo thanh của Thủy quân Lục chiến Mỹ-Việt và các đơn vị Dù và bộ binh Việt Nam Cộng Hòa trở nên rất khó khăn và nhiều tổn thất.

 

Bên trong Thành Nội là Đại Nội nơi thiết triều của các vua triều Nguyễn trước khi người Pháp chiếm năm 1883. Đại Nội hình vuông nằm cân đối trong Thành Nội, nhưng kề mặt nam hơn, mỗi bề 700 mét, bao quanh bằng một bức tường thành bằng gạch dày cao 6 mét. Ba cấu trúc đáng để ý của Huế là Cột cờ  cao 37 mét trong Thành Nội nằm ngay trước Đại Nội. Thứ hai là cầu Trường Tiền có 6 vài bắc qua sông Hương nối liền hai khu nam bắc của thành phố. Thứ ba là đồn Mang Cá nằm góc đông-bắc Thành Nội, nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ binh. Các Trung đoàn của Sư Đoàn 1 đều được bố trí dọc theo quốc lộ 1 từ An Hòa ra vùng hỏa tuyến. Bảo vệ Bộ Tư lệnh và thành phố Huế là một đại đội Hắc Báo trinh sát do Đại úy Trần Kim Huê chỉ huy. An ninh trong thành phố do cảnh sát phụ trách.

Về phiá Hoa Kỳ, chỉ có cơ quan MACV tọa lạc sau khu Tòa Khâm Sứ cũ gồm 200 nhân viên, quân nhân lẫn dân sự và vài sĩ quan Úc cố vấn của Sư đoàn 1. Đơn vị quân sự Hoa Kỳ gần nhất nằm ở sân bay Phú Bài phía nam Huế 11 km trên quốc lộ 1 đi Đà Nẵng. Tại đây có Bộ Chỉ Huy Lực lượng Đặc Nhiệm X-Ray do Chuẩn Tướng Foster LaHue chỉ huy. X-Ray là một bộ phận của Sư Đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đóng ở Đà Nẵng .

Chuẩn bị đánh Huế tướng Võ Nguyên Giáp huy động 8.000 quân gồm 2 Trung đoàn chính quy Bắc Việt và 6 tiểu đoàn cộng sản địa phương. Trong đó 5000 quân dùng để tấn công, 3000 quân còn lại dùng để bảo vệ đường tiếp vận vũ khí và người của cộng quân và đồng thời cắt đường tiếp vận của Mỹ-Việt. Lực lượng tấn công chia thành hai Đoàn. Đoàn 5 do Trung Tá Nguyễn Vạn chỉ huy chia làm hai mũi đánh từ phía nam vào khu hành chánh và MACV. Đoàn 6 do Trung Tá Nguyễn Trọng Dần chỉ huy cũng chia làm hai mũi đánh vào Thành Nội, chiếm cột cờ để kéo cờ và đồn Mang Cá. Đoàn 6 tập họp và xuất quân từ quận Hương Trà, trong khi Đòan 5 từ  thung lũng A Sao trong rặng Trường Sơn vượt sông Hương tại bến đò Đình Môn tiến vào phía nam Huế qua ngõ cầu Lim.

Mấy tháng trước khi tấn công quân đội cộng sản đã được huấn luyên kỹ thuật đánh trong thành phố và công an được lệnh chuẩn bị một danh sách quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa trong thành phố sẽ bị giết khi chiếm Huế. Trong thời gian 26 ngày đánh nhau tại Huế, Giáp rút từ Khe Sanh đưa vào chiến trường Huế – Thừa Thiên thêm 3 trung đoàn nâng tổng số quân của chiến dịch Huế lên đến 20.000 quân.

Trong đêm 28/1 một tiểu đoàn đặc công đã đưa vũ khí lén lút vào thành phố và mặc thường phục trà trộn vào dân chúng (Theo “Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa 1968 – TCK/TKN” trang 228 của Khối Quân sử, Phòng 5/TTM). Do thỏa thuận Tết, gần một nửa quân lính Việt Nam Cộng Hòa nghỉ phép ăn Tết nên khi cộng sản tấn công lực lượng chống đỡ của Việt Nam Cộng Hòa rất yếu.Tuy nhiên nhờ một yếu tố tinh thần, đồn Mang Cá không bị cộng sản tràn ngập.

Trong đêm Giao thừa, Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn I được tin cộng sản đánh vào một số thành phố duyên hải như Nha Trang và pháo kích Đà Nẵng. Sáng mồng Một ông ra lệnh cắm trại nhân viên cơ hữu, và đêm Mồng 1 Tết ông ngủ lại đồn. Sự hiện diện của tướng Trưởng đã làm cho nhân viên lên tinh thần và chống giữ không cho cộng sản tràn ngập. Cộng quân chỉ chiếm được bệnh viện nằm ngoài đồn chính và sau đó bị đẩy lui. Đại đội Thám báo cũng bám giữ được một nửa sân bay Tây Lộc .

Từ mồng 1 đến mồng 8 (30/1 – 6/2) cộng sản kêu gọi và chờ đợi nhân dân Huế nổi dậy tuyên bố không chấp nhận chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Nhưng điều này đã không xẩy ra. Ngọai trừ cán bộ cộng sản và một thiểu số nằm vùng, dân Huế nằm im trong nhà hoặc chạy trốn khi thấy bóng dáng cộng quân.

Song hành với sự kêu gọi quần chúng, công an tiếp tục chương trình tàn sát. Những người trong danh sách lập sẵn được gọi ra trình diện, cho về vài hôm để thuyết phục những người còn trốn tránh. Sau đó kêu đi học tập và giết hết trong đêm tối đơn giản bằng một viên đạn vào đầu và vùi thây trong những hầm tập thể tại sân trường trung học Gia Hội, Bãi Dâu và chùa Tăng Quang Tư. Kế hoạch đưa ra khỏi Huế để giết không thực hiện được do cuộc phản công và bao vây mặt tây nam thành phố của Sư Đòan kỵ binh không vận Hoa Kỳ.
Cuộc phản công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ bắt đầu ngày mồng 2. Đợt phản công đầu tiên phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chịu nhiều tổn thất vì tưởng rằng cộng quân nhiều lắm là một hay hai tiểu đoàn trong thành phố. Tướng Ngô Quang Trưởng và tướng Foster LaHue và Bộ Tư Lệnh Việt Mỹ ở Sài gòn không ngờ lúc này cộng sản có gần 1 sư đoàn trong thành phố Huế.

Tướng Trưởng ra lệnh Tiểu Đoàn 2 Dù cùng với một Chi đoàn thiết giáp đang đóng ở làng Từ Hạ tiến về Thành Nội để giải tỏa áp lực vào bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Một Chi đoàn thiết giáp khác đóng ở An Cựu cũng được lệnh tiến vào thành phố. Chi đoàn này do đích thân Trung Tá Phan Hữu Chí (Thiết đoàn trưởng) chỉ huy và có hai sĩ quan thiết giáp tháp tùng, trong đó có Đại úy Trương Quang Thương chỉ huy một thiết giáp. Ngoài công tác giải tỏa thành phố Chi đòan này còn có nhiệm vụ cứu gia đình tướng Trưởng đang kẹt bên hữu ngạn.

Chi đoàn của Trung Tá Chí ra khỏi trại nhưng không tiến lên được vì hỏa lực của cộng quân. Trong khi đó tiểu đoàn Dù trên đường tiến về cửa An Hòa phải chật vật chiến đấu với nhiều tổn thất đến 3 giờ chiều ngày mồng 2, mới tiến sát bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1.

Trong khi đó tướng LeHue gởi một đại đội Thủy quân Lục chiến do Đạị úy Gordon  Batcheller chỉ huy có trang bị 4 dàn súng đại liên 12 ly 7 từ Phú Bài theo quốc lộ 1 lên Huế. Đại úy Batcheller được lệnh tiến qua thành phố liên lạc với tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa từ phiá Bắc tiến vào. Trên đường tiến quân đại úy Batcheller gặp đơn vị tiếp tế có 4 xe thiết giáp hộ tống của Trung Tá LaMontagne đang trên đường tiếp tế định kỳ cho sư Đoàn 3 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở vùng giới tuyến. Gần An Cựu hai đơn vị này gặp chi đoàn thiết giáp của Trung Tá Chí đang bị hỏa lực của cộng quân không tiến lên được. Ba đơn vị – hai Mỹ, một Việt – phối hợp sức mạnh dùng hỏa lực áp đảo băng qua cầu An Cựu tiến về MACV Huế .

Chi đòan của Trung Tá Chí dẫn đầu chọc thủng hỏa lực của cộng quân băng qua cánh đồng trống nối liền chợ An Cựu với Tiểu khu Thừa Thiên (bên cạnh MACV). Khi đến trước Ty Cảnh Sát thiết giáp của Trung Tá Chí bị bắn hạ, Trung Tá Chí tử thương. Hai xạ thủ trên thiết giáp của Đại Úy Thương cũng bị thương. Đại úy Thương lái thiết giáp chạy ra ngỏ nhà hàng Chaffanjon, ra đường Lê Lợi rồi chạy về Tiểu khu an tòan. Trên đường từ An Cựu tiến vào thành phố Đại úy Batcheller bị thương nặng. Được tin tướng LaHue gởi một tiểu đoàn do Trung tá Gravel chỉ huy từ Phú Bài lên tiếp viện. Đến 3 giờ chiều đơn vị của Gravel và LaMontagne tiến vào được MACV, sau khi đã cho tản thương đại úy Bacheller và các binh sĩ khác về Phú Bài.

Đến MACV Trung tá Gravel được lệnh tiến qua Thành Nội. Nhưng với tổn thất nặng nề ông rút về MACV.

Sau nỗ lực giải tỏa không thành và nhiều tổn thất này, tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh Quân khu 1 và tướng Cushman, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ vùng giới tuyến chia trách nhiệm. Hoa Kỳ giải tỏa khu hành chánh hữu ngạn. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa giải tỏa khu tả ngạn.

Đại tá Hughes chỉ huy trưởng Trung đòan 1 Thủy quân Lục chiến được giao trách nhiệm giải tỏa hữu ngạn Huế. Trong khi đó vào mồng 4 Tết, Sư đoàn Kỵ binh không vận Hoa Kỳ bắt đầu triển khai quân phong tỏa đường tiếp vận của cộng sản từ A Sao vào thành phố Huế.

Từ MACV ở đầu cầu Trường Tiền theo đường Lê Lợi lên đến cầu Ga chỉ dài chừng 2 km và có 11 khu phố (block), hai tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ của Dại Tá Hughes đã mất 11 ngày đánh chiếm từng khu vườn, từng căn nhà với tổn thất cao. Cộng quân biến mỗi khu phố thành một pháo đài và quyết bám trụ.

Đánh suốt 24 giờ trong ngày mồng 5 để chiếm lại Kho Bạc và nhà Bưu Điện. Ngày mồng 6 chiếm lại khu thể thao thành phố (Sport center), Bệnh viện Huế và Thư viện đại học. Sau 2 ngày cam go khác, mồng 8, một đại đội của đại úy Ron Christmas chiếm lại khu hành chánh Huế. Trong cuộc tiến quân Hoa Kỳ đã dùng thiết giáp bắn trực xạ vào các khu nhà cộng quân cố thủ. Đến ngày 11 Tết quân đội Hoa Kỳ kiểm soát sân vận động, nhà thờ Phú Cam và ngày 13 Tết Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tiến đến cầu Ga, và 2 ngày sau vượt qua sông An cựu (sông An Cựu là sông đào cùng với sông Hương và quốc lộ 1 lập thành tam giác chính của phố hữu ngạn). Mục tiêu của Trung đoàn 1 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ là bắt tay với các đơn vị của Sư đoàn Không vận đang bao vây và tảo thanh các đơn vị cộng quân ở ngoài. Đến ngày 16, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ kiểm soát trọn khu hữu ngạn sông Hương, và phải mất 10 ngày nữa mới tảo thanh hết các toán du kích lẻ tẻ còn lại. Tổn thất của Hoa Kỳ giải tỏa hữu ngạn gồm 88 tử thương và 320 bị thương. Cộng quân tử thương hơn 1000 người.

Theo phân nhiệm, ngày mồng 4 tướng Trưởng chuyển quân giải tỏa thành nội Huế. Ông điều động 3 tiểu đoàn Dù số 2, số 7 và số 9 và một chi đoàn thiết giáp. Một tiểu đoàn Dù khác từ Quảng Trị được trực thăng vận vào Mang Cá để đánh ra góc đông-bắc Thành Nội. Đến ngày mồng 5 quân Dù chiếm lại được góc thành An Hòa và một phần sân bay Tây Lộc. Nhưng trong ngày kế  tiếp quân Dù không tiến được bước nào trước sự cố thủ của quân Bắc việt vẫn được tiếp thêm người và vũ khí đạn được từ phía Tây qua cửa Chánh Tây.

Ngày mồng 9 Tướng Trưởng yêu cầu Hoa Kỳ giúp. Ngày 12 Tết tướng LaHue cho tiểu đoàn của Thiếu Tá Thompson dùng tàu hải quân đổ lên Bao Vinh vào Thành Nội bằng Cửa Hậu rồi tiến đánh ngược dọc theo tường thành Đông Bắc có cửa Đông Ba. Tiểu đoàn Thiếu tá Thompson tổn thất nặng và được tăng cường bởi 1 đại đội Thủy quân Lục chiến khác. Lúc này lệnh hạn chế hỏa lực đã được hủy bỏ nên quân đội Hoa Kỳ dùng máy bay ném bom, hải pháo, xe tăng, súng đại bác trực xạ để phá hủy các ụ phòng thủ của cộng quân trong bức thành đất.

Ngày 16 Tết, thời tiết quang đản hơn trên thành phố Huế, cuộc phản công giành lại Huế bắt đầu. Thành Nội được chia thành 6 khu (xem bản đồ)

Khu A, là khu an toàn năm cạnh đồn Mang Cá giữ Cửa Hậu làm cửa chuyển quân tiếp sức và quân dụng.

Khu B quân Dù đã tảo thanh, nhưng cộng quân vẫn giữ cửa Đông Ba

Khu C là khu có sân bay Tây Lộc do Trung đoàn 3 bộ của Trung Tá Phan Bá Hòa tảo thanh. Cộng quân vẫn còn bám cửa Chánh Tây.

Khu D nằm dưới khu B gíáp cửa Thượng Tứ và bức thành phía đông Đại Nội do một tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ của Thiếu Tá Thompson tảo thanh. Tiểu đòan nầy mạnh nhất trong các đơn vị tham chiến, gồm 1000 quân nhân và trang bị vũ khí nặng và được yểm trợ hỏa lực bằng máy bay, hải pháo và đại bác trực xạ .

Khu E là khu Đại Nội, mục tiêu cuối cùng của các mũi dùi chung quanh. Khu E do cộng quân kiếm soát cho đến phút chót.

Khu F là góc tây nam Thành Nội do Chiến đoàn đoàn A Thủy quân Lục chiến từ Sài gòn ra do Trung Tá Hoàng Thông chỉ huy có một Chi đoàn Thiết giáp yểm trợ hỏa lực. Chiến đoàn có Thiếu Tá  Phan Văn Thắng chỉ huy Tiểu đoàn 1 đánh phía đông sát thành Đại nội tiến chiếm Cửa Nhà Đồ, và Thiếu Tá Phạm Văn Nhã chỉ huy Tiểu đoàn 5 đánh phía Tây, chiếm Cửa Hữu tiến xuống bắt tay với Tiểu đoàn 1. Sau đó bắt tay với Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ sau khi tiểu đoàn nàychiếm cửa Thượng Tứ. Rồi cùng hợp lực chiếm lại cột cờ.

Sau 10 ngày đánh nhau gay go trên từng đường phố, trong từng gò đất Thành Nội, sức kháng cự của cộng quân vào các ngày 25, 26 Tết suy giảm hẵn. Trước đó, vào ngày 23 Tết đưa ông Táo về trời Bộ Chỉ huy Chiến dịch của cộng quân đóng tại làng Lai Chữ đã bị Sư đòan Kỵ binh Hoa Kỳ đánh tan và các đường tiếp tế đều  bị cắt đứt. Ngày 25 Tết đoàn 6 cộng quân được lệnh rút lui.

Sáng tinh sương ngày 26 Tết quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa đã được một số binh sĩ thuộc đại đội thám báo kéo lên trước sự chứng kiến của các đơn vị Thủy quân Lục chiến Việt Nam và Hoa Kỳ.

Vài giờ đồng hồ sau , Đại đội Thám báo đích thân do đại úy Trần Kiêm Huê chỉ huy cùng 300 quân nhân thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3, Sư đoàn 1 tiến chiếm Đại Nội. Không có một sự kháng cự nào, cộng quân đã rút lui.

Ngày 26 Tết, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ từ cửa Thượng Tứ tiến ra đã làm chủ cầu Trường Tiền thiết lập sự liên lạc giữa hữu và tả ngạn sông Hương. Qua ngày 27 Tết những cuộc đánh nhau lẻ tẻ diễn ra khi các đơn vị Biệt động quân Việt Nam hành quân chiếm lại khu Gia Hội, chợ Đông Ba và hoàn toàn giải phóng Huế.

Cộng quân rút lui và tiếp tục thi hành lệnh tàn sát thực hiện chưa xong . Ngoài những người bị giết trong các ngày đầu, có thêm ít nhất một ngàn quân nhân, công chức, cảnh sát, đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, đảng Đại Việt bị giết vào những ngày sau khi cộng quân rút ra khỏi thành phố.

Huế được giải phóng. 40% nhà cửa bị sụp đổ do bom đạn. 116,000 người  trong số 140.000 dân thành phố Huế mất nhà cửa. Trong số 5,800 người chết có khoảng 3000 người do cộng sản tàn sát.

Tổn thất binh sĩ khá cao cho một trận đánh 30 ngày. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chết 384 người, bị thương nặng nhẹ 1,800 người. Hoa Kỳ tổn thất 221 quân nhân (gồm 147 Thủy quân Lục chiến, 74 bộ binh) và 1364 binh sĩ bị thương (857 Thủy quân Lục chiến, 507 bộ binh). Tổn thất của cộng quân ước lượng 8000 người chết, 5000 trong nội thành, 3000 ngoài vòng đai Huế (theo The Tet Offensive by James H. Willbanks, trang 54).

Việc cộng sản giết hàng ngàn người trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế được giải thích “cộng sản vốn tàn ác và sẵn sàng giết lầm hơn bỏ sót”. Về mặt lịch sử, sự giải thích này quá đơn giản. Lịch sử chứng tỏ rằng các chủ thuyết quá khích đều có thể đưa lại sự phóng tay và tàn độc, như Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông đã giết hằng triệu người (nếu chỉ nói những vụ tàn sát thời cận đại).

Nhưng đối với cộng sản việc giết đối phương không có vũ khí trong tay là một hành động chính trị. Và nếu đặt trong khung chính trị vào thời điểm đó không có gì biện minh cho hành động tàn sát của cộng sản trong dịp Mậu Thân. Nếu cộng sản tính tóan sẽ có một cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam cộng sản sẽ không giết bừa bãi trong những ngày đầu tiên như vậy. Còn nếu tấn công toàn quốc nhắm làm nản lòng nhân dân Mỹ và thổi bùng ngọn lửa phản chiến tại Hoa Kỳ, cộng sản lại càng mua chuộc nhân dân bằng một bộ mặt hiền hòa chờ cơ hội.

Sau này khi vụ tàn sát Mậu Thân trở thành một vết nhơ cho chính quyền Hà Nội, cộng sản đã bố trí và mua chuộc một số “nhà nghiên cứu” đưa ra những giả thuyết chạy tội cho cộng sản. Có thể kể: Thứ nhất là anh thợ chụp hình Griffiths, một ký giả chiến trường, năm 1971 viết rằng “không có vụ tàn sát Mậu Thân. Những người chết là do bom đạn của quân đội Hoa Kỳ” (xem “Battle for Hue: Tet 1968” by  Keith William Nolan 1983, Presido Press). Thứ hai là nhà báo Porter  D. Gareth, trong hai bài viết, “Vietnam: the blood argument”, 1969 và “The 1968 Hue massacre”, 1974 khẳng định chẳng có vụ tàn sát nào cả (xem The Tet Offensive by  James Willbanks trang 243). Những luận  điệu chạy tội đó không đánh lừa được dư luận thế giới. Trong những tháng cuối cùng của năm Mậu Thân 1968, Huế trắng xóa khăn tang đi đào mồ tập thể tìm thân nhân do cộng sản lùa đi trong khi chiếm Huế hay khi rút lui đã là những bằng chứng quá rõ ràng trước lịch sử.

Vẫn còn một câu hỏi cần trả lời: Tại sao cộng sản Việt Nam thực hiện vụ tàn sát Mậu Thân?  Nguyên nhân sâu xa có thể tìm thấy qua quá trình đi làm “cách mạng” của ông Võ Nguyên Giáp và món nợ máu người Pháp nợ gia đình ông.

Ông Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại Quảng Bình, năm nay 100 tuổi, con bà Nguyễn Thị Kiên và ông Võ Quang Nghiêm, một nhà nho từng theo phong trào Cần Vương chống Pháp. Ông là con thứ 6 trong một gia đình có 8 người con. Năm 12 tuổi ông được gởi vào Huế tòng học tại trường Quốc Học Huế .

Thời gian học tại Huế ông Giáp theo phong trào chống Pháp và thường đến thăm viếng cụ Phan bội Châu đang bị Pháp giam lỏng tại Bến Ngự. Sau một cuộc biểu tình chống một hành động độc tài của ông Hiệu trưởng người Pháp ông Giáp bị đuổi khỏi trường. Năm 1927 ông Giáp gia nhập đảng Tân Việt, một đảng có khuynh hướng Mác xít .

Năm 1930 Giáp bị công an Pháp bắt, và bị giam chung tại Huế với ông Đặng Thai Mại và Nguyễn Thị Quang Thái, 14 tuổi, em ruột Nguyễn Thị Minh Khai, một đảng viên nòng cốt của đảng cộng sản Đông Dương. Bị kết án và cùng bị giam tại nhà tù Lao Bão, Giáp và cô Quang Thái yêu nhau. Hai năm sau Giáp và Quang Thái được Pháp trả tự do. Quang Thái trở về quê ở Vinh, sau đó Giáp cũng bỏ Huế ra Vinh để sống gần gia đình Quang Thái. Năm 1933 khi ông Mại ra Hà Nội dạy học, Giáp theo ông Mại ra Bắc.

Tại Hà Nội, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng thuyết phục Giáp gia nhập đảng cộng sản. Trở thành đảng viên năm 1937, ông Giáp tạo uy tín rất nhanh trong đảng cộng sản nhờ căn bản học vấn và khả năng làm việc.

Năm 1939 ông Giáp lập gia đình với bà Quang Thái. Năm sau ông theo Phạm Văn Đồng qua Trung quốc gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thời gian ông còn ở Trung quốc, Pháp đã bắt và xử bắn bà Minh Khai tại Sài gòn năm 1941. Quang Thái bị Pháp bắt tại Vinh một tháng sau đó đưa ra giam và chết tại nhà lao Hỏa Lò ở Hà Nội vì tra tấn. Trường Chinh biết tin dữ nhưng dấu không cho Giáp biết.

Lưu lạc 6 năm, năm 1945 Gíáp theo chân Hồ Chí Minh trở về nắm chính quyền tại Hà Nội. Năm sau (1946) khi ông Giáp trở về Quảng Bình thăm cha ông Nghiêm không cho ông gặp cho rằng ông theo chủ nghĩa cộng sản là một chọn lựa sai lầm. Nhưng ông ủng hộ Giáp trong nổ lực chống Pháp giành độc lâp.

Hiệp định Hạ Long tháng 2/1946 cho phép Pháp đưa quân đến trú đóng tại một số thành phố tại Việt Nam trong đó có Sài gòn, Huế, Đà Nẳng, Hải Phòng, Hà nội. Tháng 12/1946 Hồ Chí Minh phát động cuộc tổng khởi nghĩa để đuổi quân Pháp ra khỏi Việt Nam. Pháp đưa quân chiếm tất cả các thành phố chính và chuẩn bị tái thiết lập chế độ đô hộ Việt Nam với một dàn chính quyền quốc gia do cựu hòang Bảo Đại làm bình phong.

Giữa năm 1947 Pháp chiếm lại Huế và Quảng Bình. Cán bộ cộng sản bố trí đưa bố mẹ và con gái ông Giáp (Võ Thị Hồng Anh, lúc đó 7 tuổi) ra vùng kháng chiến. Nhưng ông Nghiêm không chịu đi. Tháng 8/1947 Pháp bắt ông Nghiêm đưa vào giam tại lao Thừa Thiên. Ông bị tra tấn buộc khai chỗ ở của ông Giáp trên Việt Bắc và ép ông lên đài phát thanh kêu gọi Giáp bỏ cuộc đấu tranh chống Pháp. Pháp đã dùng đến phương pháp cực kỳ dã man thời trung cổ như cột ông Nghiêm vào xe kéo lê trong sân nhà tù. Ông Nghiêm không thể biết Giáp ở đâu. Còn lời kêu gọi trên đài không có tác dụng gì.

Khi ông Nghiêm quá yếu Pháp đưa ông vào bệnh viện Huế và mấy tháng sau ông chết tại đó như một người vô thừa nhận .Ông được chôn tại một nghĩa địa hoang dưới chân núi Ngự Bình. Sau năm 1975, do yêu cầu của ông Giáp, chính quyền tỉnh Quảng Bình đã lập ủy ban tìm mộ ông Nghiêm, cải táng đưa về chôn tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. (theo Google – Wikipedia)

Sau này trong thời gian thương thuyết với ông Giáp người Pháp cảm thấy áy náy đã đối đãi tàn tệ với gia đình ông giải thích rằng những người Việt trong bộ  máy cảnh sát làm việc đó chứ không phải người Pháp. Năm 1982 sử gia Will Brownell, giám đốc chương trình nghiên cứu Việt Nam thuộc đại học Columbia ở Hoa Kỳ phỏng vấn tướng Raoul Salan và hỏi ông về sự xác thực của việc bà Quang Thái vợ ông Giáp bị tra tấn chết tại nhà lao Hỏa Lò Hà Nội năm 1941 tướng Salan xác nhận điều đó có thật và tướng Salan ám chỉ rằng những sự tra tấn như vậy không do chính tay người Pháp làm (“Victory at any cost”, by Cecil B. Currey, nhà xuất bản Brassey’s Inc, 1997, trang 45)

Người Pháp chối bỏ trách nhiệm đã nhúng tay vào một việc giết người dơ bẩn không xứng đáng với một dân tộc có văn hóa, nhưng ông Giáp không quên thù cha.

Năm 1967, khi được Đảng giao trách nhiệm vạch kế hoạch tổng tấn công, có thể ông Gíap rắp tâm trả thù. Đối với người cộng sản Việt Nam, chế độ của người Pháp chuyển sang chính quyền ông Bảo Đại, rồi Việt Nam Cộng Hòa cũng chỉ là một, và mối thù nhà do người Pháp gây ra ông Giáp đổ lên đầu viên chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhất là viên chức thành phố Huế.

Mối thù 21 năm (1947 – 1968) đã được ông Giáp tính toán chi ly. Lấy ý của ông Giáp từ một văn kiện trung ương các cấp tỉnh đã chỉ thị cấp huyện, xã, phường chuẩn bị tổng tấn công ký ngày 1/11/1967. Chỉ thị có đoạn viết: “…Để chuẩn bị cuộc nổi dậy, các anh phải tận diệt bộ máy cai trị của địch …. Các anh cần lập danh sách của chúng và chỗ ở rồi dùng mọi phương tiện kể cả các toán đặc công cảm tử giết cho hết ….” (tài liệu lưu trữ tại Vietnam Archive, đại học Tech University, Lubock, Texas, theo “The Tet Offensive, a concise history” của James H. Willbanks trang 195, 196).

Chỉ thị tàn sát đã được thi hành một cách quy mô tại Huế. Một số vùng như Bến Tre, cộng quân kiểm soát khá lâu vẫn không có danh sách và tàn sát như ở Huế.

Thành phố Huế vốn là kinh đô của triều Nguyễn cho đến khi người Pháp chiếm Việt Nam vào cuối thế kỷ 19. Trước năm 1945 Huế vẫn còn là thủ phủ của Nam triều một cách hình thức. Nhưng chính yếu là nơi tọa lạc tòa khâm sứ Pháp nắm quyền cai trị Trung kỳ qua các tòa công sứ ở mỗi tỉnh và điều hành công việc hành chánh qua các vị tổng đốc, tuần vũ, tri phủ và tri huyện được đào tạo qua hệ thống giáo dục của Pháp. Sau cuộc cách mạng 19/8/1945 cũng như sau khi Pháp tái chiếm Huế năm 1947 Huế được tổ chức hành chánh giống như các tỉnh khác tòan quốc (trừ Nam kỳ). Sau Hiệp định Geneve, và sau khi Việt Nam Cộng Hòa ra đời Huế có tòa cố vấn do ông Ngô Đình Cẩn, em ruột của tổng thống Ngô Đình Diệm giữ chức cố vấn miền Trung.

Sau cuộc đảo chánh năm 1963, Huế là trung tâm của phong trào đòi chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ hóa đất nước và các cải tổ xã hội khác. Phật giáo là lực lượng đòi hỏi chính. Do Phật giáo thiếu nhân sự lãnh đạo trước một phong trào quần chúng bung ra ngoài tầm tay, cộng sản đã đột nhập và thao túng phong trào đòi chấm dứt chế độ quân nhân, thành lập đoàn sinh viên quyết tử để chống lại chính quyền trung ương tại Sài gòn. Tình hình Huế ổn định sau khi ban hành Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa và Huế trở thành thành phố bình lặng nhất tại miền Trung.

Trong khi cuộc chiến tranh xâm lăng miền nam của cộng sản Hà Nội lên cao điểm với sự uy hiếp của quân đội cộng sản tại miền giới tuyến và Khe Sanh, Huế vẫn là một thành phố an bình với sông Hương, núi Ngự và sinh hoạt văn hoá sinh động của đại học Huế và trường Quốc Học.

Không ai có thể tưởng tượng thảm cảnh giết chóc sẽ xẩy ra khi tướng Võ Nguyên Giáp đặt Huế trong vòng nhắm trả thù cha khi ông hoạch định kế hoạch tổng tấn công. Kết quả là 3000 người bị giết do một chế độ bất nhân tròng tréo với oan nghiệt của lịch sử.

Nếu việc tra tấn đưa đến cái chết của thân phụ của Giáp là một vết nhơ trong lịch sử xâm lăng của nước Pháp thì vụ trả thù trong vụ Mậu thân cũng là một tội ác không dễ xóa nhòa trong lịch sử Việt Nam.

Trần Bình Nam
Dec. 1, 2011
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
© Đàn Chim Việt